Trung tâm kế toán Hà Nội giới thiệu đến các bạn bài phân tích: Sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế – Thực trạng, nguyên nhân và định hướng phát triển – Tác giả: PGS.TS Võ Văn Nhị & Ths. Lê Hoàng Phúc

Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) từ những năm 2000 đến 2005 theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực.

Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và ban hành được 26 chuẩn mực kế toán. Việc được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế là nhằm đảm bảo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp, phản ánh được các giao dịch của nền kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, có ý kiến cho  rằng, VAS hiện mới chỉ là sự vận dụng đơn giản IAS/IFRS trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam, thực tế VAS chưa hòa hợp với IAS/IFRS và chưa cập nhật theo những thay đổi của IAS/IFRS  những năm gần đây.

Bài viết này góp phần làm rõ thực trạng về sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế; lý giải những khác biệt giữa VAS với IAS/IFRS, đồng thời đề xuất các giải pháp mang tính định hướng sự phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam phù hợp quá trình hội nhập quốc tế.

1. Thực trạng về sự hòa hợp giữa Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) với Chuẩn mực kế toán quốc tế ( IAS/IFRS)

Khi xây dựng các các chuẩn mực kế toán, quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là tuân thủ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế. VAS cơ bản đã được xây dựng dựa trên IAS/IFRS, theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy, VAS đã cơ bản tiếp cận với IAS/IFRS, phản ánh được phần lớn các giao dịch của nền kinh tế thị trường, nâng cao tính công khai, minh bạch thông tin về BCTC của các doanh nghiệp. Mặc dù vậy, VAS hiện nay vẫn bộc lộ nhiều điểm khác biệt với IAS/IFRS. Điều này thể hiện qua một số biểu hiện chủ yếu sau:

- Khác biệt cơ bản nhất là VAS chưa có quy định cho phép đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính, làm suy giảm tính trung thực, hợp lý của BCTC và chưa phù hợp với IAS/IFRS;

- VAS 21 không quy định trình bày Báo cáo biến động vốn chủ sở hữu thành một báo cáo riêng biệt như IAS 1, mà chỉ yêu cầu trình bày trong thuyết minh BCTC. Ngoài ra, chế độ kế toán Việt Nam quy định mẫu biểu báo cáo một cách cứng nhắc, làm triệt tiêu tính linh hoạt và đa dạng của hệ thống BCTC, trong khi IAS/IFRS không đưa ra mẫu biểu cụ thể của báo cáo;

- Theo VAS 21, doanh thu và chi phí tài chính được tính vào lãi/lỗ hoạt động kinh doanh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là không phù hợp với thông lệ quốc tế, khi các khoản lãi/lỗ bán cổ phiếu vốn không phải của hoạt động mang tính thường xuyên của doanh nghiệp lại được hiểu là kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu;

- IAS 2 cho phép sử dụng các phương pháp ước tính giá trị hàng tồn kho như phương pháp chi phí định mức hoặc phương pháp giá bán lẻ, nhưng vấn đề này không được đề cập ở VAS 2. VAS 2 cho phép áp dụng phương pháp “Nhập sau – Xuất trước” (LIFO) trong khi IAS/ IFRS không cho phép áp dụng phương pháp này;

- VAS 3 chỉ cho phép đánh giá lại tài sản cố định là bất động sản, nhà xưởng và thiết bị trong trường hợp có quyết định của Nhà nước, đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp và không được ghi nhận phần tổn thất tài sản hàng năm. Trong khi đó, theo IAS 16, doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá thị trường và được xác định phần tổn thất tài sản hàng năm, đồng thời được ghi nhận phần tổn thất này theo quy định tại IAS 36;

- VAS 11 quy định lợi thế thương mại được phân bổ dần trong thời gian không quá 10 năm kể từ ngày mua trong giao dịch hợp nhất kinh doanh. Trong khi đó,  IFRS 3 quy định doanh nghiệp phải đánh giá giá trị lợi thế thương mại tổn thất;

- VAS hiện thiếu một số chuẩn mực liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh như: thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS 02); công cụ tài chính (IFRS 9); tổn thất tài sản (IAS 19) các khoản tài trợ của Chính phủ  (IAS 20);  nông nghiệp (IAS 41); phúc lợi của nhân viên ( IAS 36)…

Gần đây, có một số  nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế.  Kết quả của một nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ hòa hợp của VAS với IAS/IFRS liên quan đến 10 chuẩn mực được chọn nghiên cứu ở mức bình quân là 68%.  Theo đó, các chuẩn mực về doanh thu và chi phí có mức độ hòa hợp cao hơn các chuẩn mực về tài sản. Mức độ hòa hợp về đo lường (81,2%) cao hơn nhiều so với mức độ hài hòa về khai báo thông tin (57%)  [5; tr159].

Như vậy, mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 90%, theo phát biểu của ông Bùi Văn Mai – nguyên Vụ trưởng Vụ chế  độ kế toán – Bộ Tài chính trong một phỏng vấn của báo Vnexpress, nghĩa là tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế. Trong một chừng mực nào đó, rõ ràng những khác biệt này có ảnh hưởng đến quá trình hội nhập quốc tế về kế toán của Việt Nam, dù rằng, không phải là không có những nguyên nhân khách quan của nó.

2. Nguyên nhân tồn tại những khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế

Có nhiều lý do để giải thích cho sự chưa hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS, trong đó có những nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân thuộc về môi trường kế toán.

Nguyên nhân trực tiếp

- VAS về cơ bản được soạn thảo dựa trên các IAS/IFRS tương ứng được ban hành đến cuối năm 2003, nhưng sau đó không được cập nhật những sửa đổi của IAS liên quan và IFRS mới được ban hành sau năm 2003;

- IAS/IFRS ngày càng hướng tới đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị hợp lý nhằm đảm bảo tính ‘liên quan’ của thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng, trong khi đó giá gốc vẫn là cơ sở đo lường chủ yếu được qui định bởi VAS;

- IAS/IFRS cho phép sử dụng xét đoán và ước tính nhiều hơn so với VAS, dẫn đến IAS/IFRS yêu cầu khai báo thông tin liên quan đến sử dụng xét đoán và ước tính nhiều hơn.

Nguyên nhân thuộc về môi trường kế toán 

- Thứ nhất, văn hoá của người Việt Nam là tránh rủi ro và sự không chắc chắn. Áp dụng IAS/IFRS, sự không chắc chắn là rất cao bởi vì BCTC theo IAS/IFRS sử dụng nhiều ước tính kế toán, ví dụ như giá trị hợp lý. VAS với các ước tính kế toán ít hơn và thận trọng hơn làm hạn chế những yếu tố không chắc chắn, tuy nhiên, điều này cũng giảm nhiều sự phù hợp của thông tin trên BCTC. Đặc điểm văn hoá này là yếu tố ảnh hưởng gián tiếp và rất quan trọng đến việc VAS chưa áp dụng hoàn toàn IAS/IFRS.

- Thứ hai, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn khá non trẻ, Việt Nam mới phát triển kinh tế thị trường từ những năm cuối của thế kỷ 20, thị trường vốn của Việt Nam là một trong những thị trường non trẻ nhất trên thế giới, mới được hình thành hơn mười năm nay. Đến nay, nó vẫn chưa thể hiện rõ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, mới chỉ trong phạm vi quốc gia, chưa liên thông với thị trường vốn trên thế giới. Trong khi đó, định hướng của IAS/IFRS là xây dựng hệ thống các chuẩn mực kế toán hoàn toàn thị trường và hỗ trợ thị trường vốn, một hệ thống chuẩn mực kế toán phục vụ cho lợi ích chung, chất lượng cao, dễ hiểu và có thể áp dụng trên toàn thế giới, nhằm giúp những người tham gia vào các thị trường vốn khác nhau trên thế giới ra quyết định kinh tế. Do vậy, định hướng phát triển của VAS để phục vụ cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn không mạnh như IAS/IFRS; nhu cầu của Việt Nam về một hệ thống kế toán phức tạp và hợp lý như IAS/IFRS để phục vụ thị trường vốn là chưa cấp bách. Ngoài ra, ở Việt Nam hiện nay, nhiều đối tượng sử dụng BCTC chưa có nhu cầu thực sự đối vối thông tin tài chính chất lượng cao vì thông tin tài chính chỉ đóng vai trò thứ yếu trong việc ra quyết định của họ.

- Thứ ba, Việt Nam là một nước theo hướng điển chế luật (code law) hay luật thành văn (civil law), khác với các nước theo hướng thông luật (common law). Trong các nước theo hướng điển chế luật, nhìn chung, sự bảo vệ quyền cổ đông và yêu cầu về tính minh bạch của thông tin thấp hơn trong các nước theo hướng thông luật. VAS được xây dựng phù hợp với đặc điểm hệ thống luật của một nước theo hướng điển chế luật trong khi IAS/IFRS được phát triển phù hợp với hệ thống luật của các nước theo hướng thông luật. Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia mà cơ sở, nguyên tắc kế toán được quy chiếu vào chế độ kế toán quốc gia. Theo đó, Nhà nước có vai trò kiểm soát kế toán về phương pháp đo lường, đánh giá, soạn thảo và trình bày báo cáo; việc soạn thảo, ban hành các chuẩn mực kế toán và các hướng dẫn thực hiện phải do các cơ quan nhà nước thực hiện và được đặt trong các bộ luật hoặc các văn bản pháp lý dưới luật. Trong khi đó, tại các quốc gia phát triển IAS/IFRS, các cơ sở, nguyên tắc kế toán không quy chiếu vào chế độ kế toán quốc gia; việc kiểm soát của Nhà nước được thực hiện thông qua việc giải thích mục tiêu, nguyên tắc kế toán, phương pháp đo lường, đánh giá, soạn thảo và trình bày BCTC; chuẩn mực, nguyên tắc kế toán thường được thiết lập bởi các tổ chức tư nhân chuyên nghiệp, điều đó cho phép chúng trở nên dễ thích ứng với thực tiễn và sáng tạo hơn, và phần lớn các nguyên tắc này không được quy định trực tiếp trong các văn bản luật.

3. Định hướng phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

Có thể nói rằng, việc áp dụng IAS/IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các yếu tố của  BCTC, loại trừ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán, là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong lập và trình bày BCTC. IAS/IFRS được chấp nhận như chuẩn mực lập BCTC cho các công ty tìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới. Việc sử dụng IAS/IFRS mang lại những lợi ích khá rõ, như : tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận; sự hội nhập về kế toán giúp cho các công ty huy động vốn trên thị trường quốc tế. Đến nay, đã có hơn 119 quốc gia trên thế giới thực hiện việc yêu cầu (bắt buộc) hoặc cho phép (không bắt buộc) các công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán của họ sử dụng IAS/IFRS khi lập và trình bày BCTC.

Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/IFRS không phải là hoàn toàn dễ dàng đối với các doanh nghiệp ở các quốc gia. Một trong những thách thức đó là phải có đội ngũ nhân viên kế toán và chi phí. Điều này không đơn giản vì  IAS/IFRS được xem là khá phức tạp ngay cả đối với các nước phát triển. Để áp dụng IAS/IFRS đơn vị phải bỏ ra chi phí ban đầu khá lớn, xây dựng lại hệ thống thu thập, xử lý và trình bày các thông tin tài chính. Ngoài ra, phương pháp xây dựng IAS/IFRS về cơ bản là theo mô hình Anglo-America, do đó có thể không phù hợp với các nước đang phát triển vì có sự khác biệt lớn về văn hóa và môi trường kinh tế giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển (Prather-Kinsey, 2006). Theo Carmona and Trombetta (2008), IAS/IFRS dựa trên nguyên tắc (principle-based IAS/IFRS) có tính linh hoạt cao nên có thể khó vận dụng vào hoàn cảnh các nước đang phát triển, vốn thiếu một thị trường phát triển để có thể áp dụng phương pháp dựa trên thị trường (market-base) để ước tính giá trị hợp lý

Từ các nguyên nhân của sự chưa hòa hợp giữa VAS với IAS/IFRS và những phân tích nêu trên, có thể thấy, việc Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán cho mình là một sự lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên, trong thời gian sắp tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập về kế toán nói riêng, một số giải pháp mang tính định hướng cần được xem xét một cách tích cực, như sau:

Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, trong IAS/IFRS, giá trị hợp lý được sử dụng ngày càng nhiều trong đo lường và ghi nhận các yếu tố của BCTC. Cuộc họp tháng 09/2009 tại Mỹ, nhóm các nước G-20 đã xác nhận lại cam kết thúc đẩy việc hội tụ hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế ( IFRS) trong đó có đề cập đến việc sử dụng giá trị hợp lý như một cơ sở đo lường chủ yếu nhằm tăng cường tính thích hợp của thông tin trình bày trên BCTC. Cũng trong năm 2009, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố dự thảo “Các quy định về đo lường giá trị hợp lý’, trong đó, thống nhất giá trị hợp lý là “ giá trị đầu ra” của tài sản hay nợ phải trả. Trong khi đó, VAS1 hầu như chỉ đưa ra nguyên tắc giá gốc. Việc sử dụng giá gốc làm cơ sở đo lường chủ yếu có thể đạt được  độ ‘tin cậy’ nhưng làm giảm tính ‘liên quan’ của thông tin được cung cấp bởi BCTC. Do vậy, trong một tương lai không xa, việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và điều kiện, phương pháp vận dụng “Nguyên tắc giá trị hợp lý” trở thành một vấn đề cần được Việt Nam xem xét và thực hiện một cách nghiêm túc;

Thứ hai, cần khẩn trương đánh giá, sửa đổi, bổ sung cập nhật  26 chuẩn mực đã ban hành cho phù hợp với những thay đổi của IAS/IFRS và thực tiễn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam;

Thứ ba, nhằm đáp ứng kịp thời sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế, cần sớm ban hành 5 chuẩn mực kế toán liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh trong đời sống kinh tế, bao gồm:  Thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS 02);  Tìm kiếm, thăm dò và xác định giá trị các nguồn tài nguyên khoáng sản (IFRS 06);  Công cụ tài chính (IFRS 7; IFRS 9); Các khỏan tài trợ của Chính phủ (IAS 20):  Tổn thất tài sản (IAS 36). Một số chuẩn mực cũng cần có bước chuẩn bị để ban hành trong thời gian tiếp theo như:  Tài sản nắm giữ để bán và hoạt động kinh doanh không liên tục; Phúc lợi của nhân viên;  Nông nghiệp;

Thứ tư, Việt Nam cần từng bước tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế và luật pháp phù hợp với yêu cầu của IAS/IFRS. Chẳng hạn như thị trường giao dịch tài sản cần phải ‘minh bạch’ và ‘hoạt động’ để có thể sử dụng giá trị hợp lý làm cơ sở đo lường giá trị tài sản…

Kết luận 
Hiện nay, chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn chưa hòa hợp hoàn toàn với chuẩn mực kế toán quốc tế. Sự khác biệt chủ yếu giữa VAS và IAS/IFRS là khác biệt về cơ sở đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị hợp lý và vấn đề khai báo thông tin. Sự chưa hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS có những nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân thuộc về yếu tố xã hội, kinh tế và pháp luật. Nhìn chung, việc Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán cho mình là một sự lựa chọn hợp lý. Trong thời gian tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán, phù hợp quá trình hội nhập kinh tế của đất nước, Việt Nam cần tiến hành một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, bao gồm cả giải pháp trực tiếp đối với hệ thống chuẩn mực kế toán và giải pháp thuộc về môi trường kinh tế, pháp luật./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài chính, 26 chuẩn mực kế toán đã ban hành từ năm 2001 đến 2005.
2. Nguyễn Phúc Sinh, Nâng cao tính hữu ích của BCTC doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế TP.HCM, 2008;
3. Nguyễn Thế Lộc, Tính hợp lý của“ Giá trị hợp lý” trong hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, Tạp chí Kiểm toán số 11, năm 2010;
4. Nguyễn Thị Kim Cúc, Hoàn thiện hệ thống BCTC doanh nghiệp nhằm phù hợp với yêu cầu hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế TP.HCM, 2009;
5. Phạm Hoài Hương, Mức độ hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế, Tạp chí Khoa học và công nghệ, ĐH Đà Nẳng số 5(40), 2010.
6. Trần Xuân Nam, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế : Việt Nam và sự khác biệt.
http://www.tapchiketoan.com/ke-toan/chuan-muc-ke-toan-viet-nam/chuan-muc-bao-cao-tai-chinh-quoc-te-viet-nam-va-su-khac-3.html, 2010

Theo Tạp chí Kiểm toán số 12/2011

Xem chi tiết: Các giải thưởng của Kế toán Hà Nội
  1. Giải thưởng: "Sản phẩm, dịch vụ Uy tín và Chất lượng năm 2013"
  2. Cúp vàng: "Thương hiệu tin dùng thủ đô năm 2014"
  3. Giải thưởng: "Doanh nghiệp, doanh nhân văn hóa 2014"
  4. Giải thưởng: "Thương hiệu tiêu biểu vì người tiêu dùng năm 2014"
  5. Giải thưởng: "Sản phẩm, dịch vụ uy tín, chất lượng năm 2015"

cac danh hieu dat duoc 2 1024x530 Sự hoà hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế

Các Chi nhánh làm dịch vụ kế toán của Kế toán Hà Nội Group trên toàn quốc:

Chi nhánh chính thức TẠI HÀ NỘI

Trụ sở chính (Chi nhánh 1): Đường Lê Trọng Tấn - Thanh Xuân - Hà Nội.

Chi nhánh 2: 173 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội. Bắt đầu từ 3/11/2015 Chi nhánh Cầu Giấy sẽ chuyển về địa điểm: Liên Cơ, Quận Nam Từ Liêm , Hà Nội

Chi nhánh 3: KĐT Việt Hưng - Long Biên - Hà Nội.

Chi nhánh 4: 200 Quang Trung - Hà Đông - Hà Nội.

Chi nhánh 5: 124 Minh Khai Hoàng Mai - Hà Nội.

Chi nhánh 6: 71 Nguyễn Chí Thanh Đống Đa - Ba Đình - Hà Nội.

Chi nhánh 7: Đường Cổ Bi - Huyện Gia Lâm - Hà Nội.

Chi nhánh CÁC TỈNH PHÍA BẮC

Chi nhánh 1: Đường Lê Văn Thịnh - Phường Suối Hoa – Tp. Bắc Ninh (Chi nhánh chính)

Chi nhánh 2: Đường Kênh Dương (Quán Nam Cũ), quận Lê Chân, Hải Phòng (Chi nhánh chính)

Chi nhánh 3: Đường Trần Nguyên Hãn – P. Thọ Xương – Tp. Bắc Giang.

Chi nhánh 4: Đường Chu Văn An – Hoàng Văn Thụ - Tp. Thái Nguyên.

Chi nhánh 5: Đường Giải Phóng – Tp. Nam Định - Tỉnh Nam Định

Chi nhánh 6: Đường Trần Hưng Đạo - Phố Kim Đồng - TP Thái Bình.

Chi nhánh 7: Đường Chu Văn An - TP Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.

Chi nhánh 8: Đường Nguyễn Văn Cừ - TP Hạ Long - Quảng Ninh.

Chi nhánh 9: Canh Nông, Phường Quang Trung, TP. Hải Dương, Hải Dương.

Chi nhánh 10: Thị trấn Bần, Yên Nhân, Mỹ Hào - Hưng Yên.

Chi nhánh 11: Đường Quy Lưu, phường Minh Khai, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Chi nhánh 12: Đường Tràng An, phường Tân Thành, TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Chi nhánh 13: Khu 4, P.Vân Phú, Đại Lộ Hùng Vương, TP.Việt Trì, Phú Thọ.

Chi nhánh KẾ TOÁN HÀ NỘI MIỀN TRUNG

Chi nhánh 1:  Đường Đình Hương, phường Đông Cương, Tp. Thanh Hóa.

Chi nhánh 2: Đường Nguyễn Đức Cảnh, TP Vinh, Tỉnh Nghệ An

Chi nhánh 3: Lê Sát, Phường Hòa Cường Nam, Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng

Chi nhánh 4: Ngô Quyền, phường Vĩnh Ninh, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chi nhánh MIỀN NAM

Chi nhánh 1: Số 540/1 Đường Cách mạng tháng 8 – Quận 3 – Tp. Hồ Chí Minh. (Chi nhánh chính)

Chi nhánh 2: Số 35 Lê Văn Chí - Q. Thủ Đức - Tp. Hồ Chí Minh. (Chi nhánh chính)

Chi nhánh 3: Đường Hoàng Hoa Thám - p.Hiệp Thành - Thủ Dầu 1 -Tỉnh Bình Dương. (Chi nhánh chính)

Chi nhánh 4: Nguyễn Văn Vịnh - Quận Tân Phú - TP. Hồ Chí Minh.

Chi nhánh 5: Nguyễn Chí Thanh, phường 12, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh.

Chi nhánh 6: Lê Văn Việt, KP2, Phường Hiệp Phú Quận 9, TP. Hồ Chí Minh.

Chi nhánh 7: Hà Huy Giáp, phường Quyết Thắng, TP. Biên Hòa - Tỉnh Đồng Nai.

Chi nhánh 8: Trần Hưng Đạo, TP Long Xuyên - Tỉnh An Giang.

Chi nhánh 9: Đường Trương Định, Phường An Cư, Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ - Tỉnh Cần Thơ.

Chi nhánh 10: Phan Chu Trinh, TP Vũng Tàu - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Chi nhánh 11: Thái Sanh Hạnh, Khu Phố 6, Phường 9, TP. Mỹ Tho - Tỉnh Tiền Giang.