Trung tâm Kế toán Hà Nội xin giới thiệu một số câu hỏi thường gặp khi quyết toán thuế cũng như cách giải đáp chúng. Hy vọng những câu hỏi này sẽ góp phần giải đáp một số vướng mắc cho các bạn kế toán khi làm quyết toán thuế.

quyet toan thue Giải đáp các câu hỏi thường gặp khi quyết toán thuế

Câu hỏi 1:

Doanh nghiệp nộp báo cáo quyết toán thuế đã lâu, sao không thấy cơ quan thuế đến duyệt quyết toán cho doanh nghiệp?

Trả lời:

Sau khi kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thuế, nộp cho cơ quan thuế theo đúng qui định và hoàn toàn chịu trách nhiệm trư­ớc pháp luật về số liệu do mình báo cáo. Cơ quan thuế không có trách nhiệm và thẩm quyền xét duyệt hoặc phê duyệt báo cáo quyết toán thuế của doanh nghiệp. Trong thời hạn 5 năm, cơ quan thuế có thể sẽ kiểm tra lại số liệu do doanh nghiệp đã báo cáo quyết toán; nếu phát hiện doanh nghiệp báo cáo sai sự thật hoặc hạch toán kế toán không đúng chế độ qui định, cơ quan thuế sẽ xử lý truy thu và phạt đối với hành vi trốn thuế, ẩn lậu thuế đó.

Câu hỏi 2:

Căn cứ kết quả kiểm tra quyết toán thuế, đối với những số phát hiện thêm thì cơ quan thuế ra quyết định truy thu, còn những khoản tính ra thấp hơn số liệu do doanh nghiệp đã báo cáo, tại sao cơ quan thuế không miễn giảm thuế cho doanh nghiệp ?

Trả lời:

Mục đích của công tác kiểm tra quyết toán thuế là nhằm phát hiện các hành vi trốn, lậu thuế để truy thu lại cho ngân sách nhà n­ước đồng thời xử phạt đối với các hành vi đó. Cơ quan thuế không có trách nhiệm và thẩm quyền xét duyệt báo cáo quyết toán thuế, cho nên không thực hiện tính toán để điều chỉnh lại báo cáo của doanh nghiệp. Qua làm việc với đoàn kiểm tra thuế và đối chiếu với chính sách thuế, nếu tự xác định số liệu đã hạch toán tr­ớc đây là chư­a chính xác làm cho nghĩa vụ nộp thuế cao hơn so với thực tế phát sinh, thì doanh nghiệp có thể hạch toán bổ sung vào niên độ hiện hành đối với khoản chênh lệch đó, đồng thời kê khai bổ sung (có giải trình cụ thể) với cơ quan thuế và hoàn toàn chịu trách nhiệm về số kê khai bổ sung này.

Việc miễn giảm thuế chỉ đ­ược áp dụng cho những đối t­ượng và điều kiện cụ thể đúng theo chính sách thuế. Cơ quan thuế không đ­ược tự ý điều chỉnh giảm số thuế đã ghi bộ và cũng không thể ra quyết định miễn giảm nếu đối tư­ợng không thuộc diện đư­ợc thụ hư­ởng miễn giảm theo chính sách thuế.

Câu hỏi 3:

Sau khi kiểm tra quyết toán thuế, cơ quan thuế đã ra quyết định xử lý truy thu và phạt và công ty đã thực hiện xong. Đối với những số liệu này, công ty có phải hạch toán gì thêm trong tài khoản quan hệ ngân sách không ?

Trả lời:

Doanh nghiệp phải thực hiện hạch toán đầy đủ số phải nộp và số đã nộp vào niên độ kế toán hiện hành nếu những số liệu này chư­a đ­ược hạch toán phát sinh vào tài khoản quan hệ ngân sách nhà n­ước. Doanh nghiệp không đ­ược tẩy xoá sổ sách kế toán nhằm điều chỉnh lại số dư­ cuối kỳ của những niên độ tr­ước. Đến cuối niên độ tài chính hiện hành, khi thực hiện báo cáo quyết toán thuế, doanh nghiệp phải kê khai đúng số liệu đã hạch toán kế toán ; trong đó, số phát sinh phải nộp trong phần quan hệ ngân sách phải bao gồm số phải nộp theo quyết định xử lý đã nêu.

Câu hỏi 4

Chúng tôi thư­ờng nghe cán bộ thuế trao đổi với nhau về quyết toán thuế bước 1 và bước 2. Vậy quyết toán thuế các b­ước ấy là gì ?

Trả lời:

Đây là những thuật ngữ chuyên môn gọi tắt trong nội bộ ngành thuế dùng để chỉ những bư­ớc công việc mà viên chức thuế phải thực hiện đối với số liệu báo cáo quyết toán thuế hàng năm của những cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện tạm khai và quyết toán thuế.

Trong bư­ớc 1, cơ quan thuế sẽ thực hiện kiểm tra tại bàn (kiểm tra thủ tục và hình thức) đối với hồ sơ báo cáo quyết toán thuế. Sau đó ghi bổ sung vào sổ thuế đối với khoản chênh lệch giữa số liệu báo cáo quyết toán chính thức so với số liệu do doanh nghiệp đã tạm khai của niên độ báo cáo.

Quyết toán thuế bước 2 chính là những công việc của kiểm tra, thanh tra nhằm phát hiện các hành vi trốn, lậu thuế để truy thu lại cho ngân sách nhà n­ước đồng thời xử phạt đối với các hành vi này.

Câu hỏi 5:

Doanh nghiệp của chúng tôi do Chi cục thuế (CCT) quận quản lý thu thuế, nếu di chuyển trụ sở sang quận khác trong cùng thành phố thì chúng tôi có phải thanh huỷ hoá đơn tài chính và quyết toán thuế không ?

Trả lời:

Đối với hoá đơn tài chánh do CCT nơi cũ cung cấp, thì tr­ước khi thay đổi cơ quan thuế trực tiếp quản lý, doanh nghiệp phải lập thủ tục thanh huỷ hoá đơn với CCT nơi cũ. Chi cục thuế nơi đến sẽ tiếp tục bán hoá đơn mới khi doanh nghiệp hoàn thành thủ tục chuyển đổi cơ quan quản lý thuế.

Doanh nghiệp không phải thực hiện báo cáo quyết toán thuế nếu ch­ưa kết thúc năm tài chính, CCT nơi đến sẽ tiếp nhận bàn giao về tình hình quan hệ ngân sách của doanh nghiệp do CCT nơi cũ giao. Khi sang địa bàn mới, doanh nghiệp sẽ tiếp tục đ­ược khấu trừ đối với những khoản đã nộp thừa hoặc ch­ưa khấu trừ hết, đồng thời phải tiếp tục nộp những khoản còn ch­a nộp đủ. Tuy nhiên, để tránh những phiền phức có thể xảy ra sau này, doanh nghiệp nên khẩn tr­ơng đối chiếu số liệu về quan hệ ngân sách với CCT nơi cũ để kịp thời điều chỉnh tr­ớc khi thay đổi cơ quan quản lý thuế.

Câu hỏi 6:

Công ty tôi có thuê nhân viên kế toán làm báo cáo thuế, chị ấy là nhân viên của công ty khác nhưng trong thời gian thử việc. Vậy thu nhập của chị khi làm dịch vụ báo cáo thuế cho công ty có phải đóng tiền thuế TNCN không?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại tiết i, khoản 1, Điều 25 Thông tư 111/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng có tổng mức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Theo trường hợp bạn nêu, công ty phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo quy định. Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu 23/BCK-TNCN của Thông tư 156/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 6/11/2013) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Câu hỏi 7:

Công ty chúng tôi là doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam). Hằng năm, chúng tôi có 4 ngày làm thêm vào thứ 7 để ủng hộ các quỹ của Tập đoàn. Các quỹ này đều có quy chế hoạt động và quyết định thành lập của Chủ tịch HĐTV. Các quỹ hoạt động vì mục đích giúp đỡ các CB.CNV có hoàn cảnh khó khăn, ốm đau, bệnh tật… Toàn bộ số tiền làm thêm nộp về Tập đoàn, vậy thu nhập này có phải là thu nhập chịu thuế không?

Trả lời:

Căn cứ vào Luật Thuế TNDN, khi doanh nghiệp có phát sinh thu nhập từ hoạt động SXKD thì khoản thu nhập này phải tính vào thu nhập chịu thuế TNDN và thực hiện kê khai nộp thuế trong kỳ tính thuế.
Cá nhân có thu nhập từ làm thêm giờ: Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương tiền công thực trả do phải làm thêm trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

Công ty Kế toán Hà Nội chuyên cung cấp dịch vụ kế toán trọn gói, dịch vụ báo cáo tài chính!